VÀNG TRẮNG, VÀNG TA, VÀNG TÂY LÀ GÌ ?

Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu để có thể phân biệt được  các loại kim loại vàng có thể chế tác nên sản phẩm gọng kính 

Phần 1 Gọng Kính Vàng Đúc 18K : 

Gọng kính Vàng : Gọng vàng đúc 18K được chế tác bởi vàng nguyên khối 18K được dát mỏng nhất có thể nhưng dưới bàn tay của các nghệ nhân chế tác vàng bạc Nhật Bản gọng kính vẫn đảm bảo sự chắc chắn ở các vùng chịu lực khiến cho bộ gọng kính được êm ái,ôm sát trong suốt quá trình đeo.

 

Thiết kế gọng tăm mảnh như gọng kính khoan bắt nở nhựa trực tiếp trên tròng kính đưa đến một cặp kính đơn giản nhất và tinh tế nhưng cũng không mất đi phần sang trọng, đẳng cấp với ánh sắc vàng nguyên khối 18K.

 

Tên hiệu và thông tin sản phẩm được khắc Laser trên gọng sắc nét, chi tiết thiết kế tinh tế, gọng kính kết hợp để lắp ráp được các loại tròng kính cận, viễn, loạn, hai tròng, đa tròng và tròng kính mát có độ

 

Sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng có tem chống hàng giả của bộ công an . Sản phẩm được bảo hành chính hãng 2 năm và hỗ bảo hành trọn đời với mọi chi tiết về chất liệu cũng như thiết kế. 

 

Phần 2 Màu của hợp kim vàng :

Vàng là kim loại cực kỳ dễ kéo thành sợi. Một ounce vàng tương đương với 28g vàng có thể kéo ra được một dây vàng có chiều dài 80km (với đường kính dây vàng là 5micron).

Độ tinh khiết hay độ mịn của vàng trong đồ trang sức được qui định bằng đơn vị karat. Vàng 24karat (có thể viết là 24K hay 24kt) là vàng gần như nguyên chất thường dùng để chế tác trang sức. Vàng 24K cũng được gọi là vàng ròng vì hàm lượng vàng của nó lớn hơn 99,7% hàm lượng vàng nguyên chất. Bằng chứng, có loại vàng thậm chí còn tốt hơn vàng 24K, với hơn 99,95% độ tinh khiết, nhưng nó chỉ sử dụng cho mục đích định chuẩn để đo lường vàng và không được sử dụng trong ngành kim hoàn.

Hợp kim có màu vàng (gọi tắt là hợp kim vàng), thực ra màu vàng có trên hợp kim là màu của các kim loại pha trộn với vàng tạo nên. Vàng nguyên chất, nói chung là quá mềm, do đó để sử dụng trong chế tác đồ trang sức, gần như luôn luôn phải pha thêm các kim loại khác vào. Vấn đề là chọn màu vàng nào của hợp kim phù hợp màu vàng mong muốn trên trang sức chuẩn bị chế tác. Từ đó, tính toán, chọn lựa kim loại cần phải pha thêm vào vàng.

Các loại vàng 18K, 14K và 10K cho biết có bao nhiêu hàm lượng vàng nguyên chất có mặt trong hợp kim vàng. K là viết tắt của đơn vị karat, hệ thống đo lường này sử dụng để xác định chính xác hàm lượng vàng nguyên chất có trong từng loại hợp kim vàng theo qui định:

– Vàng 24K là vàng nguyên chất

– Vàng 18K là vàng chứa 18 phần vàng và 6 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 75% vàng

– Vàng 14K là vàng chứa 14 phần vàng và 10 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 58,3% vàng

– Vàng 12K là vàng chứa 12 phần vàng và 12 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 50% vàng

– Vàng 10K là vàng chứa 10 phần vàng và 14 phần kim loại khác, làm cho nó đạt 41,7% vàng. Vàng 10K là định lượng vàng có karat thấp nhất nhưng vẫn được gọi là vàng tại Mỹ.

Thậm chí vàng 18K, chỉ với 6 phần kim loại khác, cũng có thể tạo cơ hội cho người thợ kim hoàn thỏa sức pha trộn tạo nên muôn màu sắc của vàng. Trong bảng dưới đây, giới thiệu Thành phần hóa học của hợp kim vàng có hàm lượng vàng (karat) và màu sắc khác nhau:

MÀU CỦA VÀNG THEO CẤU TẠO HỢP KIM

- Vàng có màu vàng (22K), có thành phần: Vàng 91,67%, Bạc 5%, Đồng 2%, Kẽm 1,33%

- Vàng có màu đỏ (18K), có thành phần: Vàng 75%, Đồng 25%

- Vàng có màu hồng (18K), có thành phần: Vàng 75%, Bạc 2,75%, Đồng 22,25%

- Vàng có màu tím (18K), có thành phần: Vàng 75%, Bạc 5%, Đồng 20%

- Vàng có màu trắng (18K), có thành phần: Vàng 75%, Pla-tin hay Pa-la-di 25%

- Vàng có màu trắng – xám (18K), có thành phần: Vàng 75%, Sắt 17%, Đồng 8%

- Vàng có màu xanh lá nhạt (18K), có thành phần: Vàng 75%, Bạc 25%

- Vàng có màu xanh lá tươi (18K), có thành phần: Vàng 75%, Các-mi 5%, Đồng 23%

- Vàng có màu xanh lá cây (18K), có thành phần: Vàng 75%, Bạc 20%, Đồng 5%

- Vàng có màu xanh lá đậm (18K), có thành phần: Vàng 75%, Bạc 15%, Đồng 6%, Các-mi 4%

- Vàng có màu trắng-xanh lơ hay xanh lơ (18K), có thành phần: Vàng 75%, Sắt 25%

- Vàng có màu đỏ tía, có thành phần: Vàng 80%, Nhôm 20%

Vàng thì có màu vàng và đồng thì có màu đỏ, chỉ có hai kim loại nguyên chất này có màu. Tất cả các kim loại khác có màu trắng hay màu xám. Thêm đồng vào vàng làm cho màu của vàng đỏ hơn. Thêm bạc, kẽm và các kim loại khác làm cho màu của vàng nhạt đi. Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng, hàm lượng của vàng (tính bằng karat) sẽ thấp đi hay cao lên, khi chúng ta cho thêm nhiều hay ít hàm lượng của các kim loại khác vào vàng tạo thành hợp kim vàng. Từ đây, chúng ta có thể suy luận rằng: Muốn cho vàng có màu thật sự của vàng thì hàm lượng vàng (tính bằng karat) trong hợp kim vàng phải cao.

Phần 3  VÀNG TRẮNG : 

Như đã đề cập trước đó, vàng nguyên chất quá mềm khi riêng rẻ một mình. Do đó, để dễ dàng trong chế tác trang sức, đòi hỏi phải tạo độ cứng cho vàng bằng việc bổ sung các kim loại khác vào vàng tạo thành hợp kim vàng như: Đồng, bạc, ni-ken, pa-la-đi và kẽm…

Ngoài đồng ra, tất cả các kim loại khác khi hợp kim với vàng có xu hướng làm cho màu của hợp kim vàng chuyển sang màu trắng nhiều hơn. Vàng có màu trắng (hay còn gọi là vàng trắng) đã được sử dụng để chtác trang sức vào những năm 1920, coi như một sự thay thế cho bạch kim.

Bảng dưới đây, trình bày Thành phần hóa học của vàng trắng có chứa Pa-la-đi là chủ yếu

Bổ sung bất kỳ kim loại nào có màu trắng vào vàng đều có xu hướng tẩy màu của vàng. Trong thực tế:

– Ni-ken, pa-la-đi (và bạch kim) tẩy màu của vàng mạnh nhất

– Bạc, kẽm tẩy màu của vàng vừa phải

– Các kim loại khác tẩy màu của vàng ở mức độ trung bình hay hầu như không tẩy màu của vàng

Từ đây, phân ra hai loại vàng trắng cơ bản: Vàng trắng ni-ken và vàng trắng pa-la-đi.

Một hợp kim vàng – bạc có hàm lượng vàng 9K (37,5% vàng) khá trắng, mểm mại dễ kéo, được sữ dụng trong chế tác trang sức. Vàng trắng thực tế cũng có thể đạt đến hàm lượng vàng 21K.

Việc bổ sung pa-la-đi vào vàng làm tăng nhiệt độ nóng chảy, độ đàn hồi, độ bền kéo và độ cứng của vàng. Hợp kim vàng – pa-la-đi, còn gọi là vàng trắng, thường được sử dụng rộng rãi trong ngành kim hoàn. Ngoài ra, chúng còn là loại vật liệu thường dùng trong ngành nha khoa, làm các điện cực của bu-gi đánh lửa và là hợp kim thay thế bạch kim.

Đặc biệt, do nhu cầu về giá thành sản phẩm cần một giải pháp thay thế vật liệu rẻ hơn vàng trắng hay vàng – pa-la-đi là vàng có chứa ni-ken. Nhiều hợp kim mới được tung ra thị trường, hầu hết trong số đó dựa vào việc bổ sung kim loại man-gan làm trắng là chính. Một số là hợp kim của pa-la-đi tự do với các kim loại khác nên là hợp kim có hàm lượng pa-la-đi thấp.

Cờ-rôm và sắt cũng được sử dụng như chất làm trắng đối với vàng. Chúng có xu hướng tạo độ cứng cho hợp kim vàng, gây khó khăn trong việc xử lý và chế tác trang sức. Một số hợp kim này không có được màu trắng đạt chất lượng như mong muốn, nên phải mạ thêm một lớp rô-đi-um, một số trường hợp khác thì hợp kim bị rạn bề mặt làm xấu sản phẩm.

Pla-tin, cờ-rôm, cô-ban, kẽm, thiếc và bạc, tất cả đều sử dụng như chất tẩy trắng. Bạc có tính năng làm việc tuyệt vời nhưng tính chất tẩy trắng không cao. Đồng cũng được thêm vào hợp kim để cải thiện độ mềm dẻo trong phần lớn các hợp kim làm trắng.

Phần 4 : Tính chất cơ học của hợp kim vàng trong chế tác trang sức

Để thuận lợi trong việc chế tác trang sức, mục đích của người thợ kim hoàn là luyện ra hợp kim vàng với mong muốn tăng độ bền kéo, tăng độ cứng và giảm đi độ mềm dẻo của vàng.

Kim loại bạc, do nguyên tử bạc (108) lớn hơn nguyên tử vàng (79), nên khi tạo hợp kim với vàng cải thiện đáng kể độ bền kéo và độ cứng của vàng.

Kim loại đồng, do nguyên tử đồng (64) nhỏ hơn nguyên tử vàng (79), nên khi tạo hợp kim với vàng đạt hiệu quả hơn so với bạc trong việc nâng cao độ bền kéo và độ cứng của vàng vì nó làm thay đổi cấu trúc tinh thể của vàng. Do đó, nó được dùng để làm giảm hàm lượng vàng (tính bằng karat), cho ra các kết quả từ vàng 24K qua 22K giảm đến 18K, tạo nên các hợp kim vàng có độ bền kéo và độ cứng cao. Nhưng hợp kim vàng từ 18K giảm xuống đến 9K thì đồng không có ảnh hưởng gì nhiều.

Như đã biết, hàm lượng vàng trong hợp kim giảm thì nhiệt độ nóng chảy và tỷ trọng của hợp kim cũng giảm. Nhưng ở bất kỳ hàm lượng vàng nào, các giá trị của hàm lượng vàng trên thực tế có thể khác nhau tùy thuộc vào sự liên quan về thành phần của bạc và đổng pha thêm vào vàng.

Tuy nhiên, đồng có chứa vàng với hàm lượng vàng từ 8K đến 18K có thể được làm cứng hơn nữa bằng quá trình nấu luyện. Cái khó nhất trong quá trình nấu luyện là khó tạo được kết tủa ở trạng thái rắn khi được làm nguội xuống dưới khoảng 4000C, làm cho hợp kim ít vàng dễ kéo. Bởi vì điều này, nên khi luyện các hợp kim trên cần làm nguội nhanh trong nước sau khi ủ để duy trì quá trình kết tủa ở trạng thái rắn được kéo dài thêm là rất cần thiết.